Quy chế đào tạo đại học hệ chính quy
QUY CHẾ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC HỆ CHÍNH QUY
(Theo Quyết định số 25/2006/QĐ-BGD&ĐT, ngày 26 tháng 6 năm 2006 của
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, có bổ sung và cụ thể hoá một số điều, quy định của
Giám đốc Học viện Quan hệ Quốc tế)
----------------------------------
Chương I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng
1. Quy chế này quy định đào tạo đại học hệ chính quy về tổ chức đào tạo; kiểm tra và thi học phần; thi tốt nghiệp và công nhận tốt nghiệp.
2. Quy chế này áp dụng đối với sinh viên các khóa đào tạo hệ chính quy ở trình độ đại học trong Học viện Quan hệ Quốc tế (sau đây gọi tắt là Học viện), thực hiện theo học chế mềm dẻo kết hợp niên chế với học phần.
Điều 2. Chương trình giáo dục đại học
1. Chương trình giáo dục đại học (sau đây gọi tắt là chương trình) thể hiện mục tiêu giáo dục đại học; quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục đại học, phương pháp và hình thức đào tạo, cách thức đánh giá kết quả đào tạo đối với mỗi môn học, ngành học, trình độ đào tạo của giáo dục đại học.
2. Chương trình được Học viện xây dựng trên cơ sở chương trình khung do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành, thiết kế theo kiểu ngành chính – ngành phụ, bao gồm ba ngành: Ngành chính: Quan hệ quốc tế – ngành phụ: Ngoại ngữ (tiếng Anh/tiếng Pháp/tiếng Trung); Ngành chính: Tiếng Anh – ngành phụ: Quan hệ Quốc tế; Ngành chính: Tiếng Pháp – ngành phụ: Quan hệ Quốc tế.
3. Chương trình được cấu trúc từ các học phần thuộc hai khối kiến thức: giáo dục đại cương và giáo dục chuyên nghiệp.
Điều 3. Học phần và đơn vị học trình
1. Học phần là khối lượng kiến thức tương đối trọn vẹn, thuận tiện cho người học tích luỹ trong quá trình học tập. Phần lớn học phần có khối lượng từ 2 đến 5 đơn vị học trình (ĐVHT), được bố trí giảng dạy trọn vẹn và phân bố đều trong một học kỳ. Kiến thức trong mỗi học phần phải gắn với một mức trình độ theo năm học thiết kế và được kết cấu riêng như một phần của môn học hoặc được kết cấu dưới dạng tổ hợp từ nhiều môn học. Từng học phần được ký hiệu bằng một mã riêng do Học viện quy định.
2. Có hai loại học phần: học phần bắt buộc và học phần tự chọn.
a) Học phần bắt buộc là học phần chứa đựng những nội dung kiến thức chính yếu của mỗi chương trình và bắt buộc sinh viên phải tích lũy.
b) Học phần tự chọn là học phần chứa đựng những nội dung kiến thức cần thiết nhưng sinh viên được tự chọn theo hướng dẫn của Học viện nhằm đa dạng hoá hướng chuyên môn hoặc được tự chọn tuỳ ý để tích luỹ đủ số học phần quy định cho mỗi chương trình. Học viện chưa ban hành các học phần tự chọn vì vậy chưa áp dụng việc cho sinh viên thi không đạt học phần được chuyển đổi sang học học phần tự chọn, học theo tiến độ nhanh, chậm.
3. Đơn vị học trình được sử dụng để tính khối lượng học tập của sinh viên. Một ĐVHT được quy định bằng 15 tiết học lý thuyết; bằng 30-45 tiết thực hành, hay thảo luận; bằng 45-90 giờ thực tập tại cơ sở; hoặc bằng 45-60 giờ làm tiểu luận, khoá luận tốt nghiệp.
Đối với những học phần lý thuyết hoặc thực hành, để tiếp thu được một ĐVHT sinh viên phải dành ít nhất 15 giờ chuẩn bị cá nhân.
Giám đốc Học viện (sau đây gọi tắt là Giám đốc) quy định cụ thể số tiết, số giờ đối với từng học phần cho phù hợp với đặc điểm của Học viện.
4. Một tiết học được tính bằng 45 phút.
Chương II
TỔ CHỨC ĐÀO TẠO
Điều 4. Thời gian và kế hoạch đào tạo
1. Học viện tổ chức đào tạo theo khoá học và năm học.
a) Khoá học là thời gian để sinh viên hoàn thành một chương trình cụ thể. Tùy thuộc chương trình, khóa học được quy định như sau:
- Chương trình đào tạo đại học hệ chính quy tại Học viện Quan hệ quốc tế được thực hiện trong 4 năm, gồm 8 học kỳ.
- Một năm học có hai học kỳ chính, mỗi học kỳ chính có 15 tuần thực học, 4 tuần thi, kiểm tra, và 1 tuần ngoại khoá. Ngoài hai học kỳ chính, Giám đốc có thể xem xét quyết định tổ chức thêm một học kỳ hè để sinh viên có các học phần bị đánh giá không đạt ở các học kỳ chính được học lại và để sinh viên học giỏi có điều kiện học vượt kết thúc sớm chương trình học tập. Mỗi học kỳ hè có ít nhất 5 tuần thực học và một tuần thi, kiểm tra.
2. Căn cứ vào khối lượng kiến thức quy định cho các chương trình, Giám đốc phân bổ số học phần cho từng năm học, từng học kỳ.
a) Đầu khoá học, Phòng Đào tạo thông báo công khai cho sinh viên về nội dung và kế hoạch học tập của các chương trình; quy chế đào tạo; nghĩa vụ và quyền lợi của sinh viên.
b) Đầu mỗi năm học, Phòng Đào tạo thông báo cho sinh viên lịch trình học của từng chương trình trong từng học kỳ, danh sách các học phần bắt buộc (và tự chọn), đề cương chi tiết học phần và điều kiện để được đăng ký học cho từng học phần, lịch kiểm tra và thi, hình thức kiểm tra và thi các học phần.
3. Thời gian tối đa hoàn thành chương trình bao gồm thời gian quy định cho chương trình quy định tại khoản 1 Điều này cộng với thời gian tối đa sinh viên được phép tạm ngừng học quy định tại khoản 3 Điều 6 và khoản 2 Điều 7 của Quy chế này.
Điều 5. Sắp xếp sinh viên vào học các ngành đào tạo
1. Học viện xác định điểm xét tuyển theo ngành đào tạo trong kỳ thi tuyển sinh và sinh viên đạt quy định xét tuyển sẽ được Học viện sắp xếp vào ngành đào tạo đã đăng ký.
2. Đối với những sinh viên học theo ngành Quan hệ Quốc tế, sau khi kết thúc phần học chung bắt buộc (hết năm thứ hai), tuỳ thuộc vào điểm trung bình chung (TBC) kết quả học tập sẽ được đăng ký học phần nội dung chuyên sâu theo một trong ba lĩnh vực chuyên sâu của ngành (Chính trị quốc tế/ Kinh tế quốc tế/ Luật quốc tế).
Điều 6. Điều kiện để sinh viên được học tiếp, được nghỉ học tạm thời, được tạm ngừng học hoặc bị buộc thôi học
Trước khi vào năm học, Học viện căn cứ vào số học phần đã học, điểm TBC học tập của năm học đã qua và điểm TBC tất cả các học phần tính từ đầu khoá học để xét việc học tiếp, việc nghỉ học tạm thời, việc tạm ngừng học hoặc bị buộc thôi học của sinh viên. Kết quả học tập của sinh viên ở học kỳ hè (nếu có) thuộc năm học nào được tính chung vào kết quả học tập của năm học đó.
1. Sinh viên được học tiếp lên năm học sau nếu có đủ các điều kiện dưới đây:
a) Có điểm TBC học tập của năm học từ 5,00 trở lên;
b) Có khối lượng các học phần bị điểm dưới 5,00 tính từ đầu khoá học không quá 25 ĐVHT;
c) Đóng học phí, phí nội trú (nếu ở nội trú) đầy đủ và đúng kỳ hạn.
Trong tuần lễ đầu của học kỳ của năm kế sau, sinh viên phải chủ động làm đơn gửi các Khoa, Bộ môn quản lý học phần đăng ký học lại những học phần bị điểm dưới 5,00 nếu là học phần bắt buộc; đăng ký học lại (hoặc có thể đăng ký chuyển qua học phần mới nếu là học phần tự chọn khi Học viện áp dụng chế độ học phần tự chọn). Số lần được học lại là 1 lần; Nếu sau khi học lại và thi lại vẫn không đạt yêu cầu thì sinh viên sẽ học trả nợ những học phần đó sau khi học hết năm cuối khoá, trước khi thi tốt nghiệp.
Sau khi kết thúc thời hạn nhận đơn học lại của sinh viên, các Khoa, Bộ môn lập danh sách, báo cáo số lượng cho Phòng Đào tạo để lập lịch học lại, thi lại cho sinh viên vào kỳ học hè.
2. Sinh viên được quyền gửi đơn tới Giám đốc xin nghỉ học tạm thời và bảo lưu kết quả đã học trong các trường hợp sau đây:
a) Được động viên vào lực lượng vũ trang;
b) Bị ốm hoặc bị tai nạn buộc phải điều trị thời gian dài có giấy xác nhận của cơ quan y tế;
c) Vì nhu cầu cá nhân. Trường hợp này, sinh viên phải học ít nhất một học kỳ ở Học viện và phải đạt điểm TBC các học phần tính từ đầu khóa học không dưới 5,00. Thời gian nghỉ học tạm thời vì nhu cầu cá nhân phải được tính vào thời gian học chính thức quy định tại khoản 3 Điều 4 của Quy chế này tại Học viện của sinh viên.
Sinh viên nghỉ học tạm thời khi muốn trở lại học tiếp tại Học viện phải gửi đơn tới Giám đốc ít nhất một tuần trước khi bắt đầu học kỳ mới hay năm học mới.
3. Sinh viên không thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 và khoản 4 của Điều này được quyền tạm ngừng học để có thời gian củng cố kiến thức, cải thiện kết quả học tập.
a) Sinh viên không thuộc đối tượng ưu tiên trong đào tạo được quyền tạm ngừng học tối đa không quá hai năm cho toàn khoá học.
b) Trong thời gian tạm ngừng học, sinh viên phải đăng ký học lại các học phần chưa đạt nếu là học phần bắt buộc; đăng ký học lại (hoặc có thể đăng ký học chuyển qua học phần mới nếu là học phần tự chọn khi Học viện áp dụng chế độ học phần tự chọn). Giám đốc xem xét bố trí cho các sinh viên này được học một số học phần của năm học tiếp theo nếu sinh viên đề nghị.
4. Sinh viên bị buộc thôi học nếu rơi vào một trong các trường hợp sau:
a) Có điểm TBC học tập của năm học dưới 3,50;
b) Có điểm TBC tất cả các học phần tính từ đầu khoá học dưới 4,00 sau hai năm học; dưới 4,50 sau 3 năm học và dưới 4,80 sau từ 4 năm học trở lên;
c) Đã hết thời gian tối đa được phép học tại Học viện theo quy định tại khoản 3 Điều 4 của Quy chế này;
d) Bị kỷ luật lần thứ hai vì lý do đi thi hộ hoặc nhờ người thi hộ theo quy định tại khoản 2 Điều 18 của Quy chế này;
Chậm nhất là một tháng sau khi sinh viên có quyết định buộc thôi học, Học viện phải thông báo trả về địa phương nơi sinh viên có hộ khẩu thường trú. Những sinh viên thuộc các diện quy định tại các điểm a, b và c khoản này được quyền xin xét chuyển qua học hệ trung cấp tại Học viện và được bảo lưu một phần kết quả học tập ở chương trình cũ khi học chương trình mới này. Giám đốc sẽ quyết định kết quả học tập được bảo lưu cho từng trường hợp cụ thể.
Điều 7. Ưu tiên trong đào tạo
1. Các đối tượng được hưởng chính sách ưu tiên theo đối tượng quy định tại Quy chế tuyển sinh đại học, cao đẳng hệ chính quy được hưởng chế độ ưu tiên trong đào tạo.
2. Sinh viên đại học thuộc các đối tượng ưu tiên được tạm ngừng học để củng cố kiến thức, cải thiện kết quả học tập. Thời gian tạm ngừng học tối đa không quá 3 năm cho toàn khoá học.
3. Trong thời gian tạm ngừng học, sinh viên thuộc đối tượng ưu tiên vẫn được hưởng các chế độ ưu đãi của Nhà nước.
Điều 8. Học theo tiến độ khác với tiến độ học chung của Học viện và học cùng lúc hai chương trình
1. Học theo tiến độ chậm:
a) Sinh viên học theo tiến độ chậm là sinh viên có nhu cầu học chậm so với tiến độ chung của khoá học, được quyền đăng ký với Phòng Đào tạo để xin tạm rút một số học phần trong lịch trình học quy định.
b) Các quy định học theo tiến độ chậm:
- Số học phần đăng ký tạm rút trong mỗi học kỳ có tổng khối lượng không quá 12 ĐVHT và chủ yếu thuộc vào nhóm học phần không mang tính chất bắt buộc đối với ngành đào tạo;
- Điều kiện để được học tiếp, ngừng học hoặc thôi học đối với các sinh viên học theo tiến độ chậm được thực hiện theo quy định tại Điều 6 của Quy chế này;
- Thời gian cho toàn khoá học đối với các sinh viên học theo tiến độ chậm không được vượt quá thời gian tối đa được phép học đối với sinh viên học theo tiến độ bình thường quy định tại khoản 3 Điều 4 của Quy chế này;
- Trừ các đối tượng được ưu tiên theo quy định, những sinh viên học theo tiến độ chậm ở năm học nào thì không được hưởng chính sách học bổng ở năm học đó.
2. Học theo tiến độ nhanh:
a) Sinh viên học theo tiến độ nhanh là sinh viên có nhu cầu học nhanh hơn so với tiến độ chung của khoá học, được quyền đăng ký với Phòng Đào tạo để học vượt một số học phần so với lịch trình học quy định.
b) Các quy định học theo tiến độ nhanh:
- Chỉ được thực hiện đối với những sinh viên đã học xong năm học thứ nhất;
- Sinh viên không thuộc diện tạm ngừng học và có điểm TBC học tập cả năm từ 6,50 trở lên.
- Sinh viên đang được phép học vượt, nhưng nếu có điểm TBC học tập của năm học vượt đạt dưới 6,00 thì phải dừng học vượt ở năm học tiếp theo.
- Sinh viên học vượt được rút ngắn thời gian học ở Học viện so với thời gian quy định cho toàn khoá học nhưng không được quá một năm đối với trình độ đại học.
3. Học cùng lúc hai chương trình:
a) Sinh viên học cùng lúc hai chương trình là sinh viên có nhu cầu đăng ký học thêm một chương trình thứ hai tại Học viện để khi tốt nghiệp được cấp hai văn bằng.
b) Các quy định học cùng lúc hai chương trình:
- Sinh viên học chương trình ngành chính: Quan hệ quốc tế – ngành phụ: Tiếng Anh (hoặc Tiếng Pháp) có thể đăng ký học thêm chương trình ngành chính: Tiếng Anh (hoặc Tiếng Pháp) – ngành phụ: Quan hệ quốc tế và ngược lại.
- Sinh viên không thuộc diện tạm ngừng học và có điểm TBC học tập cả năm từ 7,00 trở lên.
- Sinh viên đang học thêm chương trình thứ hai nếu có điểm TBC học tập của năm học đó đạt dưới 6,00 thì phải dừng học thêm chương trình thứ hai ở năm học tiếp theo.
- Thời gian tối đa được phép học đối với sinh viên đăng ký học đồng thời hai chương trình là thời gian tối đa quy định cho chương trình thứ nhất quy định tại khoản 3 Điều 6 của Quy chế này. Khi học chương trình thứ hai sinh viên được bảo lưu điểm của những học phần có nội dung và khối lượng kiến thức tương đương có trong chương trình thứ nhất.
- Sinh viên chỉ được xét tốt nghiệp chương trình thứ hai nếu có đủ điều kiện tốt nghiệp ở chương trình thứ nhất.
4. Đối với sinh viên học vượt với thời gian học ngắn hơn, hoặc học đồng thời hai chương trình với thời gian học dài hơn, chế độ học bổng, học phí được thực hiện cho đến khi sinh viên hoàn thành chương trình.
Điều 9. Chuyển trường
1. Sinh viên được xét chuyển trường nếu có các điều kiện sau đây:
a) Trong thời gian học tập, nếu gia đình chuyển nơi cư trú hoặc sinh viên có hoàn cảnh khó khăn, cần thiết phải chuyển đến trường gần nơi cư trú của gia đình để thuận lợi trong học tập;
b) Xin chuyển đến trường có ngành đào tạo trùng hoặc thuộc cùng nhóm ngành với ngành đào tạo mà sinh viên đang học;
c) Được sự đồng ý của trường xin chuyển đi và trường xin chuyển đến.
2. Sinh viên không được phép chuyển trường trong các trường hợp sau:
a) Sinh viên đã dự thi tuyển sinh nhưng không trúng tuyển hoặc có điểm thi thấp hơn điểm xét tuyển của trường xin chuyển đến trong trường hợp chung đề thi tuyển sinh;
b) Sinh viên có hộ khẩu thường trú nằm ngoài vùng tuyển của trường xin chuyển đến;
c) Sinh viên năm thứ nhất và năm cuối khoá;
d) Sinh viên đang chịu mức kỷ luật từ cảnh cáo trở lên.
3. Thủ tục chuyển trường:
a) Sinh viên xin chuyển trường phải làm hồ sơ xin chuyển trường theo quy định của nhà trường;
b) Giám đốc sẽ quyết định tiếp nhận hoặc không tiếp nhận, quyết định việc học tiếp tục của sinh viên như: năm học và số học phần mà sinh viên chuyển đến Học viện phải học bổ sung, trên cơ sở so sánh chương trình ở trường xin chuyển đi và chương trình của Học viện.
Chương III
KIỂM TRA VÀ THI HỌC PHẦN
Điều 10. Đánh giá học phần
1. Các học phần chỉ có lý thuyết hoặc có cả lý thuyết và thực hành:
Điểm tổng hợp đánh giá học phần (gọi tắt là điểm học phần) bao gồm: điểm kiểm tra thường xuyên trong quá trình học tập, điểm đánh giá nhận thức và thái độ tham gia thảo luận, điểm chuyên cần, điểm thi giữa học phần, điểm tiểu luận và điểm thi kết thúc học phần, trong đó điểm thi kết thúc học phần là bắt buộc cho mọi trường hợp. Đối với học phần có bài tiểu luận thì không kiểm tra thường xuyên. Cách tính điểm tổng hợp đánh giá học phần như sau:
- Điểm thi kết thúc học phần: 60%
- Kiểm tra thường xuyên: 25%
- Chuyên cần trong thảo luận, lên lớp, nhận thức: 15%
2. Số lần kiểm tra thường kỳ đối với từng học phần được quy định như sau:
- Học phần có 02 ĐVHT: 01 lần
- Học phần có 03 - 05 ĐVHT: 02 lần
3. Các học phần thực hành: sinh viên phải tham dự đầy đủ các bài thực hành. Trung bình cộng điểm của các bài thực hành trong học kỳ được làm tròn đến phần nguyên là điểm học phần loại này.
4. Việc kiểm tra giữa học phần, phần kiểm tra thực tập được thực hiện vào khoảng giữa học kỳ theo đúng kế hoạch đào tạo đã được duyệt và công bố. Hình thức thi giữa học phần là thi viết.
5. Trừ bài thi kết thúc học phần, các bài thi, kiểm tra khác ở khoản 1 do các Khoa, Bộ môn thảo luận, thống nhất cách đánh giá và giao cho giáo viên trực tiếp thực hiện. Việc tổ chức đánh giá học phần nêu trên được ghi vào đề cương chi tiết của học phần và thông báo cho sinh viên biết ngay khi bắt đầu giảng dạy học phần.
Điều 11. Tổ chức kỳ thi kết thúc học phần
1. Cuối mỗi học kỳ, Học viện tổ chức một kỳ thi chính và một kỳ thi phụ để thi kết thúc học phần. Kỳ thi phụ dành cho sinh viên không tham dự kỳ thi chính hoặc có điểm học phần dưới 5 sau kỳ thi chính. Kỳ thi phụ được tổ chức sớm nhất là hai tuần sau kỳ thi chính.
2. Thời gian dành cho ôn thi mỗi học phần tỷ lệ thuận với số ĐVHT của học phần đó và được tính ít nhất nửa ngày cho mỗi ĐVHT. Giám đốc quy định cụ thể thời gian dành cho ôn thi và thời gian thi cho các kỳ thi.
Điều 12. Ra đề thi, hình thức thi, chấm thi, số lần được dự thi kết thúc học phần
1. Đề thi do chính giảng viên dạy học phần đó hoặc do những giảng viên có cùng chuyên môn chuẩn bị. Đề thi, đáp án và thang điểm phải phù hợp với nội dung học phần đã quy định trong chương trình đào tạo. Khoa, Bộ môn có trách nhiệm tổ chức biên soạn, thông qua đề thi và lập thành ngân hàng đề thi nộp cho Phòng Đào tạo quản lý vào đầu học kỳ giảng dạy học phần đó. Giám đốc hoặc người được uỷ quyền sẽ chọn từ ngân hàng đề thi và ký duyệt đề thi cho mỗi lần thi.
2. Hình thức thi học phần có thể là thi viết, trắc nghiệm, vấn đáp hoặc kết hợp giữa các hình thức nêu trên. Giám đốc hoặc người được uỷ quyền duyệt các hình thức thi thích hợp cho từng học phần theo đề nghị của Trưởng Khoa, Bộ môn. Trong học kỳ không được thay đổi hình thức thi đã thông báo.
Thời gian làm bài qui định cho đề thi viết:
+ Đối với học phần có 4 ĐVHT trở xuống: 90 phút.
+ Đối với học phần có 5 ĐVHT trở lên: 120 phút.
Đề thi viết được soạn ít nhất là 3 đề cho một học phần. Mỗi đề thi gồm có ít nhất ba nội dung: nắm được kiến thức cơ bản, khả năng phân tích tổng hợp và liên hệ thực tiễn. Đề thi được soạn riêng cho từng trình độ. Mỗi đề thi được biên soạn phải kèm theo đáp án chi tiết và thang điểm. Các đề thi phải đảm bảo mức độ ngang nhau về dễ, khó và phải phù hợp với nội dung chương trình môn học theo qui định của Học viện. Trưởng Khoa, Bộ môn chịu trách nhiệm trước Giám đốc về đảm bảo chất lượng (mức độ phù hợp và tính chính xác) của đề thi.
Đề thi và đáp án bao gồm cả viết, vấn đáp và trắc nghiệm soạn xong phải được niêm phong theo chế độ bảo mật và giao cho Phòng Đào tạo bảo quản vào đầu học kỳ của năm học. Trên bì đựng đề thi phải có chữ ký của người ra đề. Trường hợp nội dung đề thi bị lộ những người có liên quan phải chịu trách nhiệm cá nhân, tuỳ phạm vi và mức độ ảnh hưởng của từng người. Mức kỷ luật thực hiện theo quy chế tuyển sinh.
Thi vấn đáp kết thúc học phần phải do hai giảng viên thực hiện. Điểm thi vấn đáp phải công bố công khai ngay sau mỗi buổi thi khi hai giảng viên chấm thi thống nhất được điểm chấm. Trong trường hợp không thống nhất được điểm chấm, các giảng viên chấm thi trình Trưởng Khoa hoặc Bộ môn quyết định điểm chấm.
3. Qui trình thi thực hiện như sau:
- Lịch thi học kỳ được Phòng Đào tạo lên kế hoạch chung trong chương trình giảng dạy của năm học, công bố và thông báo cho các Khoa, Bộ môn vào đầu mỗi học kỳ.
- Trước khi thi 30 phút, Giám đốc hoặc người được uỷ quyền bốc thăm đề thi chính thức. Phòng Đào tạo chịu trách nhiệm về in nhân đề thi và bảo mật trong quá trình in và bảo quản đề thi .
- Phòng Đào tạo chịu trách nhiệm tổ chức coi thi theo quy định. Danh sách sinh viên dự thi được xếp theo lớp và theo vần A, B … và được chia theo phòng thi, bàn hỏi thi. Phòng thi phải được bố trí chỗ ngồi đủ rộng và có 2 cán bộ coi thi. Trường hợp ngồi không đủ rộng (không đủ mỗi sinh viên 1 bàn 1m10) thì dùng 2 hoặc 3 đề thi chẵn, lẻ.
- Các Trưởng Khoa, Bộ môn có trách nhiệm phối hợp cử cán bộ tham gia coi thi cùng với Phòng Đào tạo khi có yêu cầu.
- Cán bộ coi thi phải thực hiện đúng nhiệm vụ qui định như với coi thi tuyển sinh. Đối với cán bộ coi thi vi phạm các qui định coi thi, Trưởng Khoa, Bộ môn hoặc Phòng Đào tạo có quyền lập biên bản đề nghị Giám đốc xử lý kỷ luật thích hợp.
- Sinh viên vắng mặt trong kỳ thi kết thúc học phần nếu không có lý do chính đáng thì phải nhận điểm 0 ở kỳ thi chính. Những sinh viên này chỉ còn quyền dự thi một lần ở kỳ thi phụ sau đó.
- Sinh viên vắng mặt có lý do chính đáng ở kỳ thi chính nếu được trưởng Phòng Đào tạo cho phép, được dự thi ở kỳ thi phụ sau đó và được tính là thi lần đầu. Những sinh viên này chỉ được dự thi lần thứ hai (nếu có) tại các kỳ thi kết thúc học phần tổ chức cho sinh viên các khóa học dưới hoặc trong học kỳ hè.
- Sinh viên đến trễ giờ thi từ 15 phút trở lên sẽ không được vào phòng thi và do đó sẽ nhận điểm thi kết thúc học phần này là không (0 điểm).
- Trong trường hợp cả hai kỳ thi chính và phụ mà điểm học phần vẫn dưới 5,00 thì sinh viên phải đăng ký học lại học phần này với số lần được dự thi theo quy định như đối với một học phần mới.
4. Chấm thi:
- Sau khi thu bài thi, Phòng Đào tạo phải tổ chức rọc phách và đánh phách bài thi, niêm phong túi bài thi và bàn giao cho Khoa, Bộ môn để chấm.
- Thời gian quy định cho việc chấm thi mỗi môn là 10 ngày kể từ khi Khoa, Bộ môn nhận bài thi.
- Mỗi bài thi phải được hai giáo viên chấm, có ghi rõ họ tên và ngày chấm trên bài thi của sinh viên.
- Khi rọc phách và chấm thi những bài nghi vấn sinh viên có đánh dấu thì để riêng và tổ chức chấm chung. Những bài xác định là đánh dấu thì sau khi chấm thi xong trừ 50 % số điểm.
- Trưởng Khoa, Bộ môn bố trí địa điểm chấm và bảo quản bài thi tại Học viện. Tuyệt đối nghiêm cấm mang bài thi ra khỏi Học viện.
- Thời gian lưu giữ các bài thi viết, tiểu luận, bài tập lớn… là 2 năm tại Khoa, Bộ môn, kể từ ngày thi hoặc ngày nộp tiểu luận hoặc bài tập lớn.
- Bảng vào điểm do Phòng Đào tạo in theo mẫu thống nhất dùng cho tất cả các học phần. Các bảng điểm phải có đầy đủ chữ ký của 2 giáo viên chấm thi và chữ ký xác nhận của Trưởng Khoa, Bộ môn. Bảng điểm thi viết và thi bằng các hình thức khác gửi cho Phòng Đào tạo phải là bảng điểm gốc có đủ các điểm thành phần, điểm thi kết thúc học phần và điểm học phần. Các Khoa, Bộ môn lưu bản sao.
- Kết quả thi phải được Phòng Đào tạo thông báo công khai, rõ ràng sau mỗi kỳ thi.
5. Chấm phúc tra:
Sinh viên có quyền đề nghị chấm phúc tra kết quả thi. Đơn xin phúc tra kết quả thi phải được gửi đến Phòng Đào tạo trong vòng 7 ngày kể từ ngày công bố kết quả. Tất cả các đề nghị chấm phúc tra đều phải nộp lệ phí theo quy định.
Phòng Đào tạo phải trình Giám đốc để tổ chức chấm phúc khảo bài thi và phải trả lời kết quả cho sinh viên trong vòng 10 ngày kể từ khi hết hạn nộp đơn. Trường hợp giáo viên chấm có sai sót thì xử lý như qui định của Quy chế tuyển sinh (cả bài thi và cả người chấm thi).
Sau khi chấm phúc tra, nếu điểm được nâng lên cao hơn trước thì Trưởng Khoa hoặc Trưởng Phòng Đào tạo phải đề nghị một cán bộ thứ 2 có cùng chuyên môn chấm lại. Kết quả cuối cùng phải do Trưởng Khoa ký tên xác nhận mới được công bố.
Điều 13. Cách tính điểm kiểm tra, điểm thi, điểm TBC, xếp loại kết quả học tập và cấp bảng điểm
1. Điểm đánh giá bộ phận và điểm học phần được chấm theo thang điểm 10 (từ 0 đến 10), làm tròn đến phần nguyên.
2. Điểm TBC học tập:
a) Công thức tính điểm TBC học tập như sau:
N
∑ ai ni
i=1
A =
N
∑ ni
i=1
A là điểm TBC học tập hoặc điểm TBC các học phần tính từ đầu khóa học
ai là điểm của học phần thứ i
ni là số ĐVHT của học phần thứ i
N là tổng số học phần.
Điểm TBC học tập của mỗi học kỳ, mỗi năm học, mỗi khoá học và điểm TBC tất cả các học phần tính từ đầu khoá học được tính đến hai chữ số thập phân.
b) Kết quả các học phần GDQP, GDTC và kết quả kỳ thi tốt nghiệp đối với các môn khoa học Mác- Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh không tính vào điểm TBC học tập của học kỳ, năm học hay khoá học. Việc đánh giá kết quả và điều kiện cấp chứng chỉ đối với các học phần này theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
c) Các điểm TBC học tập để xét thôi học, ngừng tiến độ học, được học tiếp, để xét tốt nghiệp và điểm TBC các học phần tính từ đầu khóa học được tính theo điểm cao nhất trong các lần thi.
3. Xếp loại kết quả học tập:
a) Loại đạt: Từ 9 đến 10: Xuất sắc
Từ 8 đến cận 9: Giỏi
Từ 7 đến cận 8: Khá
Từ 6 đến cận 7: Trung bình khá
Từ 5 đến cận 6: Trung bình
b) Loại không đạt: Từ 4 đến cận 5: Yếu
Dưới 4: Kém
4. Đối với các khoá 30, 31, 32 hệ đại học chính qui học phần ngoại ngữ sẽ được tính hệ số như các khoá trước, cụ thể là hệ số 6 đối với học phần có 12 ĐVHT trở lên, và hệ số 5 đối với học phần dưới 12 ĐVHT.
5. Cấp bảng điểm:
Trong quá trình học tập, sinh viên được phép tra cứu theo dõi bảng điểm hàng năm của mình trên máy tính theo mã số riêng do Học viện quy định từ khi nhập trường. Sinh viên có thể làm đơn đề nghị nhà trường cấp bảng điểm và phải nộp lệ phí theo quy định.
Chương IV
THI TỐT NGHIỆP VÀ CÔNG NHẬN TỐT NGHIỆP
Điều 14. Thực tập cuối khóa, làm khoá luận tốt nghiệp hoặc thi tốt nghiệp
1. Năm học cuối khoá, các sinh viên được đăng ký làm khoá luận tốt nghiệp hoặc thi tốt nghiệp khối kiến thức giáo dục chuyên nghiệp và thi tốt nghiệp các môn khoa học Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh được quy định như sau:
a) Làm khoá luận tốt nghiệp áp dụng cho sinh viên đại học đạt mức quy định của Học viện. Khoá luận tốt nghiệp là học phần có khối lượng 10 ĐVHT.
Sinh viên theo học ngành Quan hệ quốc tế nếu hội tụ đủ điều kiện theo quy định, được phép làm luận văn tốt nghiệp theo một trong 3 lĩnh vực chuyên sâu của ngành (Chính trị quốc tế/Kinh tế quốc tế/Luật quốc tế). Đối với sinh viên theo học ngành Tiếng Anh (hoặc Tiếng Pháp) – Quan hệ quốc tế, khoá luận tốt nghiệp được viết bằng ngôn ngữ Tiếng Anh (hoặc Tiếng Pháp) tuỳ theo chuyên ngành.
b) Thi tốt nghiệp khối kiến thức giáo dục chuyên nghiệp áp dụng cho sinh viên đại học không được giao làm khoá luận tốt nghiệp, sau khi đã tích lũy đủ số học phần quy định cho chương trình.
Nội dung thi tốt nghiệp khối kiến thức giáo dục chuyên nghiệp gồm hai phần: phần kiến thức cơ sở ngành và phần kiến thức chuyên môn; được tổng hợp từ một số học phần bắt buộc thuộc chương trình với tổng khối lượng kiến thức tương đương với khối lượng kiến thức của khóa luận tốt nghiệp như quy định tại điểm a khoản 1 Điều này.
Sinh viên theo học 3 ngành: Quan hệ quốc tế – Ngoại ngữ, Tiếng Anh – Quan hệ quốc tế và Tiếng Pháp – Quan hệ quốc tế thi tốt nghiệp chung về phần kiến thức cơ sở. Về phần kiến thức chuyên môn: sinh viên học ngành Quan hệ quốc tế – Ngoại ngữ thi tốt nghiệp theo lĩnh vực chuyên sâu đã học, và sinh viên theo học ngành Tiếng Anh (hoặc Tiếng Pháp) – Quan hệ quốc tế thi tốt nghiệp theo các nội dung của học phần bắt buộc thuộc chương trình.
c) Thi tốt nghiệp các môn khoa học Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh áp dụng cho tất cả sinh viên đại học theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
2. Tùy theo điều kiện của Học viện và đặc thù của từng ngành đào tạo, Giám đốc quy định:
- Các điều kiện để sinh viên được đăng ký làm khoá luận tốt nghiệp hoặc thi tốt nghiệp khối kiến thức giáo dục chuyên nghiệp;
- Hình thức và thời gian làm khoá luận tốt nghiệp, điều kiện được bảo vệ khoá luận tốt nghiệp;
- Nội dung các học phần thi, hình thức ôn tập và thi, hình thức chấm khoá luận tốt nghiệp;
- Nhiệm vụ của giảng viên hướng dẫn và trách nhiệm của bộ môn và khoa đối với sinh viên trong thời gian làm khoá luận tốt nghiệp và ôn thi tốt nghiệp.
3. Học viện có thể bố trí thời gian làm khoá luận tốt nghiệp kết hợp với thời gian thực tập chuyên môn cuối khoá. Phòng Đào tạo chịu trách nhiệm liên hệ bố trí các cơ sở thực tập cho sinh viên phù hợp với ngành và lĩnh vực chuyên sâu mà sinh viên theo học. Thời gian và các yêu cầu về thực tập được thực hiện theo quy định.
4. Năm học cuối khóa, nếu sinh viên đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì không được đăng ký làm khóa luận tốt nghiệp hoặc thi tốt nghiệp.
Điều 15. Chấm khoá luận tốt nghiệp và chấm thi tốt nghiệp
1. Giám đốc quyết định thành lập các hội đồng chấm khoá luận tốt nghiệp, chấm thi tốt nghiệp khối kiến thức giáo dục chuyên nghiệp và chấm thi tốt nghiệp các môn khoa học Mác- Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh. Số thành viên của mỗi hội đồng là 3 đến 5 hoặc 7, trong đó có chủ tịch và thư ký. Thành viên của hội đồng là giảng viên của Học viện hoặc có thể mời thêm những người có chuyên môn phù hợp ở ngoài Học viện.
2. Sau khi sinh viên trình bày nội dung và trả lời những câu hỏi, các thành viên của Hội đồng chấm khóa luận tốt nghiệp cho điểm theo phiếu. Điểm đánh giá khoá luận tốt nghiệp là TBC các điểm của từng thành viên hội đồng, người đánh giá và người hướng dẫn, được làm tròn đến phần nguyên.
3. Thi tốt nghiệp khối kiến thức giáo dục chuyên nghiệp và thi tốt nghiệp các môn khoa học Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh có thể theo hình thức thi viết hoặc vấn đáp. Thời gian thi viết tối đa là 180 phút cho mỗi học phần. Việc ra đề thi, tổ chức thi, coi thi, chấm thi theo hình thức thi viết hoặc thi vấn đáp do Giám đốc quy định.
4. Kết quả chấm khoá luận tốt nghiệp, thi tốt nghiệp khối kiến thức giáo dục chuyên nghiệp và thi tốt nghiệp các môn khoa học Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh theo hình thức vấn đáp phải được công bố sau mỗi buổi bảo vệ, mỗi buổi thi. Kết quả thi viết được công bố chậm nhất là 10 ngày sau khi thi.
Điểm khoá luận tốt nghiệp hoặc điểm thi tốt nghiệp khối kiến thức giáo dục chuyên nghiệp được tính vào điểm TBC học tập của toàn khoá học.
Sinh viên bảo vệ khoá luận tốt nghiệp, thi tốt nghiệp khối kiến thức giáo dục chuyên nghiệp và các môn khoa học Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh theo quy định tại các khoản 1, 2 Điều 14 của Quy chế này nếu có điểm dưới 5,00 sẽ được Học viện tổ chức cho bảo vệ hoặc thi lại trong thời gian từ 3 đến 6 tháng sau khi Học viện công bố kết quả. Nội dung thi, hình thức thi, ra đề thi, tổ chức thi, chấm thi, tổ chức bảo vệ khóa luận, xét và đề nghị công nhận tốt nghiệp cho những sinh viên này được thực hiện như ở kỳ bảo vệ chính hoặc kỳ thi chính do Giám đốc quy định.
Điều 16. Điều kiện xét tốt nghiệp và công nhận tốt nghiệp
1. Những sinh viên có đủ các điều kiện sau thì được xét tốt nghiệp:
a) Cho đến thời điểm xét tốt nghiệp, sinh viên không đang trong thời gian bị truy cứu trách nhiệm hình sự;
b) Tích lũy đủ số học phần quy định cho chương trình, không còn học phần bị điểm dưới 5;
c) Được xếp loại đạt ở kỳ thi tốt nghiệp các môn khoa học Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh;
d) Có các chứng chỉ Giáo dục Quốc phòng và Giáo dục Thể chất;
e) Sinh viên chỉ được xét tốt nghiệp khi đã hoàn thành nghĩa vụ về đóng học phí, phí nội trú (nếu ở nội trú), và trả hết sách mượn thư viện.
2. Căn cứ đề nghị của Hội đồng xét tốt nghiệp, Giám đốc ký quyết định công nhận tốt nghiệp cho những sinh viên đủ các điều kiện theo quy định.
Hội đồng xét tốt nghiệp do Giám đốc hoặc Phó Giám đốc được Giám đốc uỷ quyền làm Chủ tịch, Trưởng Phòng Đào tạo làm thư ký và có các thành viên là các trưởng khoa chuyên môn và các thành viên khác do Giám đốc quy định.
Điều 17. Cấp bằng tốt nghiệp, bảo lưu kết quả học tập và chuyển loại hình đào tạo
1. Bằng tốt nghiệp đại học được cấp theo ngành đào tạo chính. Bằng chỉ được cấp cho sinh viên khi đã ghi đầy đủ, chính xác các nội dung trên tấm bằng theo quy định hiện hành của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Xếp hạng tốt nghiệp được xác định theo điểm TBC học tập của toàn khoá học quy định tại khoản 3 Điều 13 của Quy chế này.
2. Hạng tốt nghiệp của những sinh viên có kết quả học tập toàn khoá loại xuất sắc và giỏi sẽ bị giảm đi một mức nếu vi phạm vào một trong các trường hợp sau:
a) Có khối lượng của các học phần phải thi lại vượt quá 5% so với tổng số ĐVHT quy định cho toàn khoá học;
b) Đã bị kỷ luật trong thời gian học từ mức cảnh cáo trở lên.
3. Kết quả học tập của sinh viên phải được ghi vào bảng điểm của sinh viên theo từng học phần. Trong bảng điểm còn phải ghi chuyên ngành, hướng chuyên sâu hoặc ngành phụ nếu có.
4. Những sinh viên còn chưa hoàn thành khoá luận tốt nghiệp, các môn thi tốt nghiệp hoặc các chứng chỉ giáo dục quốc phòng và giáo dục thể chất nhưng đã hết thời gian tối đa được phép học, trong thời hạn 3 năm tính từ ngày kết thúc khóa học, được trở về Học viện trả nợ để có đủ điều kiện xét tốt nghiệp cùng với sinh viên các khóa dưới.
5. Sinh viên không tốt nghiệp được cấp giấy chứng nhận về các học phần đã học trong chương trình của Học viện. Những sinh viên này nếu có nhu cầu, được quyền làm đơn xin phép chuyển qua các chương trình khác theo quy định tại khoản 4 Điều 6 của Quy chế này.
6. Đối với sinh viên học ngành chính là ngành Quan hệ Quốc tế sẽ được cấp chứng chỉ ngoại ngữ nếu có điểm các học phần ngoại ngữ trong 3 học kỳ cuối đạt từ 5,00 điểm trở lên.
Chương V
XỬ LÝ VI PHẠM
Điều 18. Xử lý kỷ luật đối với sinh viên vi phạm các quy định về thi, kiểm tra
1. Trong khi kiểm tra thường xuyên, thi giữa học phần, thi kết thúc học phần, thi tốt nghiệp, bảo vệ khoá luận (sau đây gọi tắt là thi, kiểm tra) nếu vi phạm quy chế, sinh viên sẽ bị xử lý kỷ luật đối với từng học phần đã vi phạm.
2. Sinh viên thi hộ hoặc nhờ người thi hộ đều bị kỷ luật ở mức đình chỉ học tập 1 năm đối với trường hợp vi phạm lần thứ nhất và buộc thôi học đối với trường hợp vi phạm lần thứ hai.
3. Trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này, mức độ sai phạm và khung xử lý kỷ luật đối với sinh viên vi phạm được thực hiện theo các quy định của Quy chế tuyển sinh đại học, cao đẳng hệ chính quy.
Chương VI
ĐIỀU KHOẢN THỰC HIỆN
Các điều quy định trong bản Quy chế đào tạo đại học hệ chính quy này thay cho các quy định trước đây của Học viện và được áp dụng thực hiện từ năm học 2006 – 2007 cho tất cả các khoá đại học theo hệ chính qui của Học viện.
Phòng Đào tạo, Các Khoa, Bộ môn, giáo viên và sinh viên theo học mỗi chương trình đại học chính quy tại Học viện chịu trách nhiệm thi hành các điều khoản quy định tại Quy chế này.
Cập nhật 12-03-2007
