Giới thiệu
Đào tạo
  Văn bản, tư liệu
  Các loại hình đào tạo
  Phòng Đào tạo
  Khoa CTQT và NGVN
  Khoa Kinh tế Quốc tê
  Chương trình học
  Cơ cấu tổ chức
  Tin tức - Sự kiện
  Đội ngũ giảng viên
  Khoa Ngoại Ngữ
  Khoa Luật Quốc tế
  Khoa Đào tạo sau Đại học
  Trung tâm Đào tạo - Bồi dưỡng CBĐN
  Trung tâm BPD tiếng Pháp
Viện Nghiên cứu Chiến lược Ngoại giao
Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế
Quản lý Khoa học
Thư viện
Ấn phẩm
 

Giáo sư ĐH Harvard nói chuyện với sinh viên Khoa Kinh tế

Việt Nam hiện đang tiềm ẩn nhiều dấu hiệu tương tự như Thái Lan giai đoạn trước khủng hoảng kinh tế - tiền tệ năm 1997 – Một nhận định có tính cảnh báo của các chuyên gia kinh tế - tài chính ĐH ĐH Harvard trong buổi nói chuyện ngày 22/01/2008 với Sinh viên Khoa Kinh tế quốc tế của Học viện Quan hệ quốc tế.

Ngày 22/01/2008, đoàn chuyên gia kinh tế tài chính của trường Đại học Harvard Mỹ đã đến thăm Học viện Quan hệ quốc tế và nói chuyện với sinh viên Khoa Kinh tế quốc tế của Học viện.  Đây là một hoạt động của đoàn trong chuyến công tác tại Việt với tư cách là cố vấn của Thủ tướng Chính phủ về các vấn đề nổi bật của kinh tế Việt . Đoàn bao gồm Giáo sư Thomas Vallely, Ben Wilkinson của Harvard, chuyên gia kinh tế cao cấp Jonathan Pincus, UNDP và các giảng viên của chương trình Fulbright – Việt Nam.

 

Các chuyên gia kinh tế - tài chính của ĐH Harvard đã đề xuất những bài học kinh nghiệm đối với nền kinh tế Việt Nam từ việc so sánh mô hình phát triển của các nền kinh tế Đông Á và Đông Nam Á trong giai đoạn 1960 – 2004. Mặc dù cả Đông Á và Đông Nam Á đều không tránh được cuộc khủng hoảng kinh tế - tiền tệ năm 1997, nhưng phản ứng và chiến lược phát triển của mỗi nền kinh tế khác nhau đã mang lại những kết quả khác nhau. Trong khi các nền kinh tế Đông Á (Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc) đã hồi phục và phát triển một cách thành công, thì các nền kinh tế Đông Nam Á (ở đây nói đến Indonesia, Philippines, Malaysia, Thái Lan) dường như đánh mất đà tăng trưởng từng được gọi là thần kỳ của mình. Hầu hết các nền kinh tế Đông Nam Á đều ít nhiều còn những bất ổn định cả về kinh tế, xã hội và chính trị. Tính từ sau cuộc khủng hoảng 1997, thập kỷ vừa qua có thể coi như một thập kỷ mất mát về mặt kinh tế đối với các nền kinh tế Đông Nam Á. Điều đó chứng tỏ yếu tố quyết định thành công hay thất bại của một nền kinh tế không phải là khó khăn hoàn cảnh mà quan trọng là phản ứng của mỗi nền kinh tế, quyết sách, cách xử lý của chính phủ trước những khó khăn đó.

Có thể thấy nhiều điểm khác biệt trong quan điểm phát triển của các nền kinh tế Đông Á và các nền kinh tế Đông Nam Á. Nếu Đông Á cũng áp dụng những biện pháp bảo hộ thương mại, nhưng có định hướng, chỉ áp dụng cho những doanh nghiệp chứng tỏ được khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế của mình, thì ở các nước Đông Nam Á, các doanh nghiệp có sức cạnh tranh kém lại được sự bảo hộ nhiều hơn. Vấn đề thứ 2, là tính cách mạng trong cải cách cơ cấu kinh tế. Tong khi các nước Đông Nam Á chỉ có sự chuyển dịch cơ cấu từ từ, từ nông nghiệp sang các ngành công nghiệp chế biến có hàm lượng công nghệ thấp, thì các nước Đông Á đã làm một cuộc cách mạng nhảy vọt, vươn lên bắt lấy những công nghệ hàng đầu thế giới, tạo sức ép để thay đổi chính các doanh nghiệp của mình. Các nước này hiểu rằng công nghệ là yếu tố sống còn để nâng cao năng suất lao động, từ đó mới có sự tăng trưởng kinh tế vượt bậc và bền vững.

Nói về thách thức đối với nền kinh tế Việt Nam, các chuyên gia kinh tế Harvard cho rằng vấn đề nan giải đầu tiên của nền kinh tế Việt hiện nay chính là hiệu quả đầu tư. Theo kết quả nghiên cứu của nhóm chuyên gia kinh tế Harvard, hệ số ICOR (hệ số đo mức hiệu quả của đầu tư = Tổng vốn đầu tư /GDP) của Việt Nam đang ở mức rất cao so với khu vực: năm 2004 là 4,4 và hiện tại là xấp xỉ 5. Như vậy để tạo ra một đồng GDP, Việt Nam đang phải tốn mất gần 5 đồng đầu tư, trong khi đó hệ số trung bình của khu vực chỉ là 3 (Hàn Quốc: 3, Đài Loan (Trung Quốc): 2,7; Indonesia: 3,7; Trung Quốc: 4, Thái Lan: 4,1). Với một hiệu quả đầu tư thấp như vậy, khả năng tăng trưởng cao của Việt Nam về dài hạn sẽ bị hạn chế. 

Nền kinh tế Việt Nam hiện nay đang tiềm ẩn nhiều yếu tố tương tự như Thái Lan giai đoạn trước khủng hoảng năm 1997: tỷ lệ lạm phát cao, đầu tư kém hiệu quả, giá bất động sản thuộc hàng cao nhất thế giới, kỳ vọng của mọi người quá cao, bong bóng trên thị trường cổ phiếu, cơ chế giám sát hệ thống ngân hàng yếu, các khoản nợ của ngân hàng không được quản lý tốt, mức tăng cung tiền cao hơn mức tăng GDP. Tuy nhiên so với Thái Lan, Việt Nam có tỷ lệ nợ ngắn hạn tương đối thấp, đảm bảo tính an toàn cao hơn cho hệ thống ngân hàng.

Nếu như không có những điều chỉnh kịp thời, những yếu tố này có thể phát triển trở thành ngòi nổ kích hoạt khủng hoảng trong cả hệ thống kinh tế tài chính. Có thể nhận định này phần nào gây shock với nhiều người vốn đang phấn khởi với những thành tích kinh tế của Việt , nhưng là một bức tranh thực tế cần phải được nhìn nhận và điều chỉnh kịp thời.

Trong trình bày của mình các chuyên gia kinh tế ĐH Harvard đã nhấn mạnh 5 trụ cột và cũng là giải pháp để phát triển nền kinh tế, đó chính là: (1) Giáo dục (2) Cơ sở hạ tầng (3) Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp (4) Hệ thống tài chính lành mạnh, được quản lý tốt (5) Nhà nước thông thái, hiệu quả.

Để có được những thay đổi mạnh mẽ về mặt công nghệ, năng suất, hiệu quả đầu tư, nâng cao sức cạnh tranh, chìa khóa chính là đội ngũ nhân lực và vai trò của giáo dục. Mặc dù Việt Nam đã chú trọng giáo dục, nhưng giáo dục đại học nói chung và đào tạo về công nghệ thông tin nói riêng vẫn còn thua kém nhiều nước trong khu vực, chưa đáp ứng được yêu cầu của các doanh nghiệp, yêu cầu của các nhà đầu tư nước ngoài đang đến với Việt Nam. 

Các chuyên gia kinh tế ĐH Harvard cũng đánh giá cao Bộ Ngoại giao với chính sách đầu tư cho giáo dục, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cũng như của hiệu quả của Học viện Quan hệ quốc tế trong việc đào tạo nguồn nhân lực và tư vấn chính sách cho Bộ Ngoại giao. Việc mở hai ngành mới đào tạo Cử nhân Kinh tế quốc tế và Luật quốc tế trong năm 2008 bên cạnh ngành đào tạo truyền thống là Chính trị quốc tế được đánh giá là một bước quan trọng trong chiến lược nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho Bộ Ngoại giao và các cơ quan kinh tế đối ngoại trong bối cảnh Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay. Các chuyên gia kinh tế ĐH Harvard cũng mong muốn sẽ có những chương trình hợp tác hiệu quả trong tương lai với Học viện Quan hệ quốc tế.

kktqt

Tạo bởi kktqt
Cập nhật 19-04-2008

Bản quyền © 2008 - Học Viện Ngoại giao
Địa chỉ 69 phố Chùa Láng Quận Đống Đa Hà Nội – Điện thoại:084-04-8344540/Fax 084-04-8343543
Visited: